Danh dự của một thiếu nữ thuộc về nàng nên nàng suy nghĩ rất cẩn thận. Danh dự của người đàn bà là thuộc về chồng, nên nàng suy nghĩ ít hơn.
Khuyết Danh
Bài này tìm tâm cho cả hai tầng của căn nhà tọa Nam hướng Bắc, chia 8 cung Bát trạch, rồi đề xuất cách bố trí nội thất cho từng phòng. Tinh bàn và ngày động thổ của căn nhà đã có ở hai bài Huyền không phi tinh theo phong thuỷ Lạc Việt và Cách chọn ngày động thổ làm nhà theo Huyền Không và Bát trạch. Các góc trong bài đo từ bản vẽ nên có sai số khoảng 2–3°, cần kiểm tra lại bằng la bàn tại công trình.
1. Tâm nhà cho cả hai tầng

Hình 1. Dựng tâm cho tầng 1 (trái) và tầng 2 (phải). Sân có mái thép được gạch chéo và không tính. Khung đỏ nét đứt là khối tính tâm, hai đường chéo cắt nhau tại tâm. Ở tầng 2, vòng tròn nét đứt màu xám đánh dấu tâm tầng 1.
- Tầng 1: khối từ trục 2 đến mép ngoài trục 5, 12 400 × 6 000 mm. Tâm cách mép ngoài trục 1 là 11 560 mm, sau trục 3 khoảng 1,6 m, cạnh bàn ăn.
- Tầng 2: tính cả phần đua 1,5 m trước trục 2, khối 13 880 × 6 000 mm. Tâm cách mép ngoài trục 1 là 10 820 mm, ở hành lang trước cửa phòng thờ.
Tâm tầng 1 không rơi vào WC, bếp hay cầu thang, đúng như lưu ý về trung cung ở bài Huyền Không. Tinh bàn Huyền Không cũng được đặt lên tâm này.
Mỗi tầng một tâm hay một tâm chung?
- Mỗi tầng một tâm. Mỗi tầng tính theo khối của chính nó. Tầng 1 có cửa chính, nơi nạp khí, nên các vị trí tầng 1 đo từ tâm tầng 1. Các phòng tầng 2 đo từ tâm tầng 2. Bài này dùng cách này.
- Một tâm chung cho cả nhà. Một số thầy lấy hình chiếu từ trên xuống của cả khối nhà, tính cả phần tầng trên đua ra. Với nhà mình, tâm chung này trùng với tâm tầng 2 (10 820 mm).
Mình đã thử dùng tâm chung cho tầng 1. Các vị trí đều giữ nguyên cung, trừ hai chỗ:
- Cửa phụ dịch từ 49°–59° sang khoảng 62°–70°, tức nằm ngay trên ranh Đông Bắc / Đông (67,5°).
- Góc trục 2–A dịch từ 339° sang 336° và lọt vào cung Tây Bắc.
Ngược lại, nếu dùng tâm tầng 1 cho tầng 2 thì chỉ phòng thờ và cầu thang đổi cung (xem mục 5). Hai cách cho kết quả gần như nhau. Chỗ đáng lưu ý nhất là cửa phụ: theo tâm chung, cửa phụ nằm sát ranh Đông Bắc / Đông.
2. Đặt la bàn và chia 8 cung
- Đặt la bàn nằm phẳng tại tâm, tránh xa ô tô, cốt thép và thiết bị điện.
- Xoay vạch 0° về hướng Bắc, rồi kiểm tra lại: hướng mặt tiền phải đọc được 5°.
- Kẻ 8 tia ranh giới từ tâm ở các góc 22,5°, 67,5°, 112,5°… 337,5°. Mỗi cung rộng 45° và gồm 3 sơn (mỗi sơn 15°).
| Cung | Khoảng độ | Ba sơn |
|---|---|---|
| Bắc (Khảm) | 337,5° – 22,5° | Nhâm, Tý, Quý |
| Đông Bắc (Cấn) | 22,5° – 67,5° | Sửu, Cấn, Dần |
| Đông (Chấn) | 67,5° – 112,5° | Giáp, Mão, Ất |
| Đông Nam (Tốn) | 112,5° – 157,5° | Thìn, Tốn, Tỵ |
| Nam (Ly) | 157,5° – 202,5° | Bính, Ngọ, Đinh |
| Tây Nam (Khôn) | 202,5° – 247,5° | Mùi, Khôn, Thân |
| Tây (Đoài) | 247,5° – 292,5° | Canh, Dậu, Tân |
| Tây Bắc (Càn) | 292,5° – 337,5° | Tuất, Càn, Hợi |
Có hai điểm cần để ý với một ngôi nhà ống dài và hẹp như nhà mình:
- Các cung không đều nhau trên mặt bằng. Vì tia xuất phát từ tâm, hai cung Bắc và Nam chiếm gần hết hai đầu nhà, còn các cung Đông và Tây chỉ là dải hẹp hai bên tâm. Do mặt tiền lệch 5° nên các tia cũng không đối xứng hoàn toàn với trục nhà.
- Có hai cách chia cung. Nhiều người chia lưới 3 × 3 (cửu cung) đều nhau theo hình nhà; cách này hay dùng cho Huyền Không phi tinh. Với Bát trạch, mình chia theo tia 45° từ tâm như trên. Ở nhà ống, hai cách cho kết quả khác nhau khá nhiều, nên khi đọc tài liệu cần xem họ đang dùng cách nào.
3. Tốt xấu phụ thuộc vào nhà hay vào người?
Câu trả lời là cả hai. Bát trạch đặt hai lớp quái lên cùng 8 cung vừa chia:
- Trạch quái tính theo hướng ngồi của nhà. Nhà tọa Ngọ là Ly trạch, thuộc Đông tứ trạch. Lớp này cố định, không đổi dù ai ở.
- Mệnh quái (cung phi) tính theo năm sinh và giới tính của người ở. Gia chủ nam 1992 là Cấn, thuộc Tây tứ mệnh.
Vì vậy, ở bài Huyền Không mình viết “hướng nhà rơi vào Ngũ quỷ”: câu đó tính theo mệnh Cấn. Nếu chỉ xét ngôi nhà thì hướng Bắc lại là Diên niên của Ly trạch. Hai câu không mâu thuẫn, chúng thuộc hai lớp khác nhau.
| Cung | Ly trạch (theo nhà) | Mệnh Cấn – Lạc Việt | Mệnh Cấn – truyền thống (Bát trạch minh kính) |
|---|---|---|---|
| Bắc | Diên niên (tốt) | Ngũ quỷ (xấu) | Ngũ quỷ (xấu) |
| Đông Bắc | Họa hại (xấu) | Phục vị (tốt) | Phục vị (tốt) |
| Đông | Sinh khí (tốt) | Lục sát (xấu) | Lục sát (xấu) |
| Đông Nam | Thiên y (tốt) | Sinh khí (tốt) | Tuyệt mệnh (xấu) |
| Nam | Phục vị (tốt) | Họa hại (xấu) | Họa hại (xấu) |
| Tây Nam | Lục sát (xấu) | Tuyệt mệnh (xấu) | Sinh khí (tốt) |
| Tây | Ngũ quỷ (xấu) | Diên niên (tốt) | Diên niên (tốt) |
| Tây Bắc | Tuyệt mệnh (xấu) | Thiên y (tốt) | Thiên y (tốt) |
Lớp nhà và lớp người gần như ngược nhau hoàn toàn, vì nhà thuộc Đông tứ trạch còn gia chủ thuộc Tây tứ mệnh. Hai trường phái chỉ khác nhau ở cung Đông Nam và Tây Nam (in đậm). Lý do đã được giải thích ở bài Huyền Không.

Hình 2. Tám cung trên mặt bằng tầng 1: bên trái theo Ly trạch (lớp nhà), bên phải theo mệnh Cấn của gia chủ (Lạc Việt, TT là trường phái truyền thống theo Bát trạch minh kính). Màu xanh là cung tốt, màu đỏ là cung xấu. Các số ứng với bảng ở mục 4.
Hai lớp ngược nhau thì theo lớp nào?
Bát trạch coi trọng nhất là nhà hợp người: người Đông tứ mệnh ở nhà Đông tứ trạch, người Tây tứ mệnh ở nhà Tây tứ trạch. Nhà mình không hợp với gia chủ ngay từ hướng nhà. Khi không đổi được hướng nhà, mình xử lý theo thứ tự sau:
- Ba thứ chính theo mệnh chủ nhà. Cửa đi lại hằng ngày, phòng ngủ của chủ nhà và bếp (gọi là “môn – chủ – táo”) gắn trực tiếp với người ở. Ba thứ này nên đặt và quay theo cung tốt của mệnh Cấn. Chủ nhà là người trụ cột; nếu vợ con khác mệnh thì xét thêm chỗ giường của từng người.
- Ưu tiên những cung mà hai lớp cùng tốt hoặc cùng xấu. Theo Lạc Việt, Đông Nam là cung duy nhất tốt ở cả hai lớp, còn Tây Nam là cung duy nhất xấu ở cả hai lớp. WC và bể phốt nhà mình đặt ở Tây Nam là đúng cả hai lớp. Theo trường phái truyền thống thì không có cung nào hai lớp trùng nhau.
- Phần còn lại theo lớp nhà. Những chỗ dùng chung, không gắn với riêng ai (phòng khách, kho, cầu thang) thì xét theo Ly trạch, hoặc không cần quá cầu kỳ.
Nói gọn: ở những chỗ người dùng nhiều nhất (cửa, giường, bếp) thì theo người; ở những chỗ dùng chung thì theo nhà. Huyền Không phi tinh ở bài trước cũng thuộc lớp nhà, vì nó tính theo tọa hướng và vận, không phụ thuộc tuổi người ở.
4. Đánh giá từng vị trí ở tầng 1
| # | Vị trí | Phương vị | Sơn | Cung | Ly trạch | Mệnh Cấn (Lạc Việt / truyền thống) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Cửa chính | 352° | Nhâm | Bắc | Diên niên | Ngũ quỷ |
| 2 | Cửa phụ (đầu bậc tam cấp) | 49° – 59° | Cấn, Dần | Đông Bắc | Họa hại | Phục vị |
| 3 | Phòng khách | 358° | Tý | Bắc | Diên niên | Ngũ quỷ |
| 4 | Bếp nấu (vị trí) | 127° | Thìn | Đông Nam | Thiên y | Sinh khí / Tuyệt mệnh |
| Hướng bếp | 185° | Ngọ | Nam | Phục vị | Họa hại | |
| 5 | Cầu thang | 269° | Dậu | Tây | Ngũ quỷ | Diên niên |
| 6 | Phòng ngủ 1 | 168° | Bính | Nam | Phục vị | Họa hại |
| 7 | Phòng tắm | 214° | Mùi | Tây Nam | Lục sát | Tuyệt mệnh / Sinh khí |
| 8 | WC | 206° | Mùi | Tây Nam | Lục sát | Tuyệt mệnh / Sinh khí |
| 9 | Bể phốt | 202° | Đinh | Nam, sát ranh Tây Nam | Phục vị | Họa hại |
Ba chỗ cần xử lý: cửa chính rơi vào Ngũ quỷ của mệnh Cấn, bếp hướng Nam là Họa hại, còn cửa phụ lại đúng cung Phục vị của gia chủ. Mục 6 đối chiếu thêm với sách Bát trạch minh kính, mục 7 là cách hóa giải bằng vật dụng.
5. Đánh giá từng vị trí ở tầng 2
Các phòng tầng 2 được đo từ tâm tầng 2. Cột cuối ghi kết quả nếu đo từ tâm tầng 1, để đối chiếu.
| Vị trí | Phương vị | Sơn | Cung | Ly trạch | Mệnh Cấn (Lạc Việt / truyền thống) | Nếu dùng tâm tầng 1 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Phòng làm việc | 17° | Quý | Bắc | Diên niên | Ngũ quỷ | 16°, Bắc |
| Lô gia | 353° | Tý | Bắc | Diên niên | Ngũ quỷ | 354°, Bắc |
| Phòng ngủ 2 (gia chủ) | 342° | Nhâm | Bắc | Diên niên | Ngũ quỷ | 346°, Bắc |
| Phòng thay đồ | 54° | Dần | Đông Bắc | Họa hại | Phục vị | 42°, Đông Bắc |
| Phòng thờ | 123° | Thìn | Đông Nam | Thiên y | Sinh khí / Tuyệt mệnh | 99°, Đông |
| Bàn thờ (vị trí) | 106° – 117° | Ất, Thìn | Ranh Đông / Đông Nam | Sinh khí / Thiên y | Lục sát / Sinh khí (truyền thống: Tuyệt mệnh) | 90° – 102°, Đông |
| Hướng bàn thờ | 275° | Dậu | Tây | Ngũ quỷ | Diên niên | như cũ |
| Hành lang | 192° | Đinh | Nam | Phục vị | Họa hại | 195°, Nam |
| Cầu thang | 238° | Thân | Tây Nam | Lục sát | Tuyệt mệnh / Sinh khí | 254°, Tây |
| Phòng ngủ 3 | 162° | Bính | Nam | Phục vị | Họa hại | 157°, sát ranh Đông Nam |
| Ban công phơi | 170° | Bính | Nam | Phục vị | Họa hại | 169°, Nam |
| Tắm 2 | 209° | Mùi | Tây Nam | Lục sát | Tuyệt mệnh / Sinh khí | 213°, Tây Nam |
| WC2 | 203° | Mùi | Tây Nam, sát ranh Nam | Lục sát | Tuyệt mệnh / Sinh khí | 206°, Tây Nam |

Hình 3. Tầng 2 với tâm riêng và 8 cung theo mệnh Cấn (Lạc Việt). Vòng tròn nét đứt màu xám là tâm tầng 1. Mũi tên đỏ chỉ hướng nhìn của bàn thờ và hướng đầu giường ở hai phòng ngủ.
Đổi tâm chỉ làm phòng thờ và cầu thang đổi cung. Bàn thờ nằm ngay trên ranh Đông / Đông Nam (106°–117°), trong vùng sai số của bản vẽ, nên chưa nói chắc được bàn thờ thuộc cung nào. Hướng bàn thờ thì rõ ràng: hướng Tây, Diên niên của mệnh Cấn. Vì vậy mình lấy hướng làm yếu tố chính.
6. Đối chiếu với Bát trạch minh kính
Bát trạch minh kính là sách Bát trạch đời Thanh, ký tên Nhược Quán đạo nhân. Cột "truyền thống" trong các bảng ở trên chính là cách an sao của sách này. Theo sách, cung Đông Nam của mệnh Cấn là Tuyệt mệnh, còn Tây Nam là Sinh khí. Sách xét nhà chủ yếu qua ba thứ: cửa (môn), phòng chủ (chủ) và bếp (táo). Ngoài ra sách có thêm quy tắc cho giường và nhà xí:
- Cửa và phòng chủ nên nằm ở phương tốt của mệnh chủ nhà.
- Bếp “tọa hung hướng cát”: thân bếp đè lên phương xấu để trấn cái xấu, hỏa môn (miệng lửa) quay về phương tốt.
- Nhà xí đặt ở phương xấu để đè cái xấu. Không đặt nhà xí ở phương tốt, nhất là Sinh khí.
- Giường của chủ nhà nên nằm ở phương tốt và quay về phương tốt.
Áp các quy tắc này vào nhà mình, giữ nguyên nội thất hiện tại:
| Hạng mục | Hiện trạng | Sao (mệnh Cấn) | Theo Bát trạch minh kính |
|---|---|---|---|
| Cửa chính | Bắc | Ngũ quỷ | Chưa đạt |
| Cửa phụ | Đông Bắc | Phục vị | Đạt |
| Phòng chủ (phòng ngủ 2) | Bắc | Ngũ quỷ | Chưa đạt |
| Đầu giường gia chủ | Tây | Diên niên | Đạt |
| Thân bếp | Đông Nam, 127° | Tuyệt mệnh | Đạt: bếp đè lên phương xấu |
| Hỏa môn của bếp | Nam | Họa hại | Chưa đạt |
| Tắm, WC (cả hai tầng) | Tây Nam | Sinh khí | Phạm: nhà xí đè lên phương tốt nhất của gia chủ |
| Bể phốt | 202°, ranh Nam / Tây Nam | Họa hại / Sinh khí | Phía Nam đạt, phía Tây Nam phạm. Cần đo lại. |
So với cách đọc theo Lạc Việt, có hai chỗ đảo ngược:
- Thân bếp từ chưa đạt thành đạt.
- Tắm và WC từ hợp thành phạm. Đây là điểm nặng nhất khi xét theo sách này.
Các chỗ còn lại cho cùng kết luận ở cả hai trường phái. Sách không đặt bàn thờ thành một mục chính như môn – chủ – táo, nên bàn thờ vẫn xét theo hướng như ở mục 5. Theo tâm tầng 2, phòng thờ ở Đông Nam, là Tuyệt mệnh theo sách này.
Hỏa môn của bếp ga và bếp từ
Thời xưa, hỏa môn là cửa đưa củi vào bếp. Bếp ga và bếp từ không còn cửa này, nên hiện có hai cách hiểu:
- Hướng mặt bếp, tức phía có núm vặn. Bài này dùng cách hiểu này, nên bếp nhà mình hướng Nam (Họa hại).
- Hướng nguồn cấp năng lượng, tức chỗ ống ga hoặc dây điện đi vào bếp. Nếu theo cách này, chỉ cần cho ống ga hoặc ổ cắm bếp từ đi vào từ phía Tây hoặc Tây Bắc của bếp (Diên niên, Thiên y) là đạt, không phải dời bếp.
Vì nội thất đã cố định, việc đi lại ống ga hoặc ổ cắm là cách sửa ít tốn kém nhất để bếp đạt cả hai vế “tọa hung hướng cát” theo sách này.
Cửa đi lại hằng ngày
Cửa chính ở cung Bắc nên chưa đạt. Tuy vậy, nhiều người hiểu “môn” là cửa mà chủ nhà đi lại hằng ngày. Nếu gia chủ dùng cửa phụ (Phục vị) làm lối đi chính thì vế “môn” vẫn đạt.
7. Vật dụng hóa giải cho từng khu vực
Nội thất nhà mình đã cố định, nên mục này không dời giường hay bếp. Thay vào đó, ở mỗi chỗ phạm sao xấu, mình đặt thêm vật dụng theo ngũ hành để giảm bớt cái xấu. Cách làm phổ biến là tiết khí: dùng hành mà sao xấu sinh ra để rút bớt lực của nó. Đồng thời tránh những thứ thuộc hành sinh ra sao xấu, vì chúng làm sao xấu mạnh thêm.
| Sao xấu | Hành | Nên đặt | Nên tránh |
|---|---|---|---|
| Ngũ quỷ | Hỏa | Đồ Thổ: gốm sứ, đá, màu vàng đất, nâu, kem | Màu đỏ, nến, đèn đỏ, cây xanh lớn (Mộc sinh Hỏa) |
| Họa hại | Thổ | Đồ Kim: inox, đồng, chuông gió kim loại, màu trắng, ghi | Màu đỏ và màu vàng đất đậm |
| Lục sát | Thủy | Đồ Mộc: cây xanh, đồ gỗ, lọ hoa tươi | Bể cá, thác nước, đồ kim loại lớn |
| Tuyệt mệnh | Kim | Đồ Thủy: chén nước, bình thủy tinh, màu xanh dương, đen | Đồ kim loại lớn, đồ gốm đá nặng |
Một điều may là cung Bắc, nơi có nhiều phòng nhất, là Ngũ quỷ (Hỏa) theo mệnh Cấn nhưng lại là Diên niên (Kim) theo lớp nhà. Đồ Thổ vừa rút lực Ngũ quỷ, vừa sinh cho Diên niên, nên hợp cả hai lớp. Thổ cũng là hành của quẻ Cấn, tức hợp với gia chủ.
Những chỗ không cần dời đồ cũng vẫn chọn được: gia chủ nên ngồi ở ghế nhìn về hướng Tây, Tây Bắc hoặc Đông Bắc, cả ở sofa lẫn bàn ăn. Đây là những hướng tốt của mệnh Cấn mà cả hai trường phái đều công nhận. Các khu vực dưới đây đi từ tầng 1 lên tầng 2.
Cửa chính và sảnh (Bắc, Ngũ quỷ)
- Hai bên cửa đặt một cặp chậu gốm men vàng hoặc nâu, hoặc đá cảnh. Nếu muốn trồng cây thì chọn cây nhỏ, không đặt cây lớn sát cửa.
- Thảm chùi chân màu vàng đất hoặc nâu. Không dùng thảm đỏ, không treo đèn lồng đỏ ở cửa.
- Nếu có gương ở sảnh mà đang đối diện cửa chính, dán phim mờ hoặc treo rèm che.
- Gia chủ nên đi lại hằng ngày bằng cửa phụ (Phục vị). Cửa chính để đón khách và dắt xe.
Cửa phụ và tiểu cảnh (Đông Bắc, Phục vị)
- Cửa phụ ở cung tốt của gia chủ, không cần hóa giải.
- Góc này bị khuyết. Để bù góc khuyết, đặt đá cảnh, sỏi, chậu gốm và một đèn ánh vàng chiếu vào tiểu cảnh, bật vào buổi tối. Đông Bắc là quẻ Cấn, hành Thổ, nên đá và gốm hợp với cung này và với gia chủ.
- Giữ góc này khô ráo, không chất đồ cũ, không để cây to che cửa phụ.
Phòng khách (Bắc, Ngũ quỷ)
- Đồ trang trí dùng bình gốm, tượng đá, tranh tông vàng nâu. Gối sofa và thảm nên chọn màu kem, be, nâu.
- Hạn chế đồ màu đỏ, nến và đèn trang trí ánh đỏ. Cây xanh lớn nên đưa ra tiểu cảnh hoặc lô gia.
- Khi ngồi sofa, gia chủ chọn chỗ nhìn về hướng Tây.
- Nếu từ cửa chính nhìn thẳng thấy chân cầu thang, đặt một kệ thấp hoặc chậu gốm ở khoảng giữa để chắn bớt.
Bếp và bàn ăn
- Bếp đang hướng Nam, là Họa hại (Thổ) với mệnh Cấn. Hóa giải bằng Kim:
- mảng ốp tường sau bếp dùng inox, kính trắng hoặc gạch trắng, ghi;
- treo thanh treo và dụng cụ bằng inox ngay cạnh bếp;
- hạn chế khăn, thảm màu đỏ và vàng đất quanh bếp.
- Nếu theo cách hiểu hỏa môn là hướng nguồn cấp (mục 6), cho ống ga hoặc ổ cắm bếp từ đi vào từ phía Tây hoặc Tây Bắc của bếp.
- Nếu chậu rửa đặt sát bếp nấu, kê một thớt gỗ hoặc khay gỗ ở giữa. Theo ngũ hành, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, nên Mộc nối hai hành này lại thay vì để Thủy khắc Hỏa.
- Bàn ăn nằm đúng tâm tầng 1. Trên bàn chỉ cần một lọ hoa hoặc bát gốm. Đèn thả trên bàn ăn chọn ánh vàng. Gia chủ ngồi ghế nhìn về hướng Tây hoặc Tây Bắc.
Cầu thang (Tây, Diên niên)
- Cầu thang ở cung tốt, không cần hóa giải. Gầm thang nếu làm kho thì giữ gọn, có cửa đóng.
Tắm, WC và bể phốt (Tây Nam)
- Theo Lạc Việt, đây là Tuyệt mệnh, WC đặt ở đây là hợp. Theo truyền thống, tức theo Bát trạch minh kính, đây là Sinh khí. WC đè lên cung tốt nhất của gia chủ là lỗi nặng nhất khi xét theo sách này (mục 6). Vì vậy cần làm cho khu này sạch và khô nhất có thể.
- Đặt một chậu trầu bà hoặc lưỡi hổ và một túi than hoạt tính hoặc đèn đá muối. Quạt hút chạy sau mỗi lần dùng.
- Cửa WC luôn đóng, nắp bồn cầu luôn đậy. Nếu cửa WC nhìn về phía bếp hay bàn ăn, treo thêm một tấm rèm ngắn.
- Bể phốt sát ranh Nam / Tây Nam. Với mệnh Cấn thì cả hai cung đều xấu, nên không cần xử lý thêm.
Phòng ngủ 1 và phòng ngủ 3 (Nam)
- Hai phòng này xét theo mệnh của người ngủ ở đó. Đầu giường đang quay về hướng Đông, tốt với người Đông tứ mệnh, nên không cần hóa giải.
- Nếu người ngủ thuộc Tây tứ mệnh, hướng Đông là hướng xấu của họ. Khi đó cần năm sinh của người đó để tính sao cụ thể rồi mới chọn vật dụng.
- Ở phòng ngủ 1, tường phía trục A là tường chung với tắm và WC. Không treo tranh hay kê tủ đầu giường sát tường đó. Nên kê tủ quần áo vào đó để làm lớp đệm.
Phòng làm việc và lô gia (Bắc, Ngũ quỷ)
- Người ngồi đang nhìn về hướng Bắc. Trên bàn đặt chặn giấy bằng đá, ống bút hoặc chậu cây nhỏ bằng gốm. Đèn bàn ánh vàng.
- Dùng ghế có lưng tựa cao vì sau lưng không có tường.
- Lô gia trồng cây nhỏ trong chậu gốm, không dùng làm chỗ chứa đồ.
Phòng ngủ 2 của gia chủ (Bắc, Ngũ quỷ)
- Đầu giường đã quay về hướng Tây (Diên niên), đây là điểm tốt nhất của phòng.
- Rèm, ga gối và thảm dùng tông vàng đất, kem, nâu nhạt. Đặt một bình gốm hoặc đèn ngủ chân gốm ở đầu giường.
- Hạn chế đồ màu đỏ, không để nhiều thiết bị điện quanh giường. Sạc điện thoại nên để xa đầu giường.
- Gương bàn trang điểm hay gương cánh tủ nếu chiếu vào giường thì che lại khi ngủ.
- Phòng thay đồ bên cạnh ở Đông Bắc (Phục vị), không cần hóa giải. Gương soi toàn thân nếu nhìn thẳng ra cửa sang phòng ngủ thì nên khép cửa khi ngủ.
Phòng thờ
- Bàn thờ nhìn về hướng Tây (Diên niên), không cần xử lý hướng.
- Vị trí bàn thờ nằm trên ranh Đông / Đông Nam nên có ba khả năng:
- nếu thuộc cung Đông thì là Lục sát (Thủy);
- nếu thuộc cung Đông Nam, theo Lạc Việt là Sinh khí, tức tốt;
- nếu thuộc cung Đông Nam, theo truyền thống là Tuyệt mệnh (Kim).
- Đồ thờ thông thường đã đủ để hóa giải cả hai trường hợp xấu. Đôi lọ hoa tươi (Mộc) rút lực Lục sát. Chén nước trong thay hằng ngày (Thủy) rút lực Tuyệt mệnh. Chỉ cần giữ hai thứ này thường xuyên.
- Đèn thờ dùng ánh vàng. Không đặt đồ kim loại lớn trên bàn thờ ngoài lư hương. Phòng thờ không dùng làm kho.
Hành lang tầng 2
- Đây là tâm tầng 2. Giữ trống và có đèn sáng. Không đặt tủ, máy giặt hay chậu cây lớn ở đây.
Tắm 2, WC2 và ban công phơi
- Tắm 2 và WC2 áp dụng giống tắm và WC tầng 1: cây trầu bà, than hoạt tính, quạt hút, cửa luôn đóng.
- Ban công phơi ở cung Nam, là Họa hại (Thổ) với mệnh Cấn. Sào phơi và giá phơi bằng inox (Kim) là hợp. Không chất đồ cũ ở đây.
8. Tóm tắt
| Hạng mục | Kết quả |
|---|---|
| Tâm tầng 1 | Khối 12 400 × 6 000 mm, không tính sân có mái thép. Tâm ở cạnh bàn ăn. |
| Tâm tầng 2 | Khối 13 880 × 6 000 mm, tính cả phần đua. Tâm ở hành lang trước phòng thờ, cũng là tâm chung nếu lấy theo hình chiếu cả nhà. |
| Hai lớp | Nhà Ly trạch (Đông tứ trạch), gia chủ mệnh Cấn (Tây tứ mệnh): không hợp nhau. Cửa, giường, bếp, bàn thờ xét theo mệnh chủ nhà; chỗ dùng chung xét theo lớp nhà. |
| Cửa đi | Cửa chính ở cung Bắc (Ngũ quỷ): đặt chậu gốm, đá, thảm màu vàng nâu, tránh đồ đỏ. Cửa phụ ở Đông Bắc (Phục vị): gia chủ đi lại hằng ngày, tiểu cảnh có đá, sỏi, đèn vàng để bù góc khuyết. |
| Bếp | Hướng Nam (Họa hại, Thổ): ốp tường sau bếp bằng inox, kính trắng hoặc gạch trắng, ghi; treo dụng cụ inox. Nếu chậu rửa sát bếp thì kê thớt gỗ ở giữa. Theo Bát trạch minh kính, thân bếp ở Tuyệt mệnh là đạt; có thể cho ống ga hoặc ổ cắm đi vào từ phía Tây hoặc Tây Bắc. |
| Theo Bát trạch minh kính | Đạt: cửa phụ, đầu giường gia chủ, thân bếp. Chưa đạt: cửa chính, phòng chủ, hỏa môn. Phạm nặng nhất: tắm và WC ở Sinh khí (Tây Nam). |
| Cung Bắc (khách, làm việc, ngủ 2) | Dùng đồ gốm, đá, màu vàng đất, kem, nâu. Cách này hợp cả lớp người lẫn lớp nhà. Hạn chế đồ đỏ và thiết bị điện quanh giường. Che gương chiếu vào giường. |
| Phòng thờ | Bàn thờ hướng Tây (Diên niên). Vị trí sát ranh Đông / Đông Nam: đôi lọ hoa tươi và chén nước thay hằng ngày đủ để hóa giải. |
| Phòng ngủ 1 và 3 | Xét theo mệnh người ngủ. Đầu giường hướng Đông hợp người Đông tứ mệnh. |
| Tắm, WC (cả hai tầng) | Cung Tây Nam. Dùng cây trầu bà, than hoạt tính, quạt hút. Cửa luôn đóng, nắp bồn cầu luôn đậy. |
| Tâm nhà | Bàn ăn (tầng 1) và hành lang (tầng 2) để thoáng, có đèn ánh vàng. |
Bài viết dựa trên Bát trạch của hai trường phái Lạc Việt và truyền thống (Bát trạch minh kính), áp vào mặt bằng cụ thể của nhà mình. Với nhà khác, cần tính lại tâm và cung phi theo đúng mặt bằng và tuổi của gia chủ.
Tài liệu tham khảo
- Huyền không phi tinh theo phong thuỷ Lạc Việt (bài trước của blog)
- Cách chọn ngày động thổ làm nhà theo Huyền Không và Bát trạch (bài trước của blog)
- Học phong thủy P1
- Bát trạch minh kính (八宅明鏡), Nhược Quán đạo nhân, đời Thanh. Đây là sách kinh điển về Bát trạch và là nguồn của các nguyên tắc “môn – chủ – táo”, “tọa hung hướng cát”.
